Trấn An Còn Ý Thức

Trấn An Còn Ý Thức
  • Trong nha khoa, kỹ thuật trấn an còn ý thức từ lâu đã được sử dụng như là một phương pháp hiệu quả, có thể thực hiện thường xuyên nhằm hạn chế sự lo âu cho bệnh nhi. Kỹ thuật trấn an còn ý thức là một kỹ thuật sử dụng thuốc trấn an nhằm ức chế hệ thần kinh trung ương để thực hiện việc điều trị, trong đó giao tiếp ngôn ngữ luôn được duy trì với trẻ trong suốt quá trình trấn an. Thuốc dung trong kỹ thuật trấn an còn ý thức cho điều trị nha khoa phải có một giới hạn an toàn đủ rộng để không xảy ra mất ý thức ở trẻ. Mức độ trấn an là bệnh nhân còn ý thức, còn phản xạ bảo vệ, còn khả năng biểu và đáp ứng với lời yêu cầu.
  • Việc sử dụng thuốc để trấn an bệnh nhi nha khoa nhằm mục đích làm giảm sợ hãi và cảm nhận đau của trẻ trong suốt quá trình điều trị, giảm tổn thương cho trẻ đến mức tối thiểu và tăng tối đa tác dụng gây quên của thuốc. Ngoài ra, phương pháp trấn an bệnh nhi bằng thuốc còn giúp bác sĩ kiểm soát được hành vi, cử động của trẻ khiến việc điều trị hoàn thành thuận lợi và an toàn, nhờ đó bác sĩ có thể giảm được cảm xúc khó chịu và stress khi phải tiếp xúc và điều trị cho những bệnh nhi không hợp tác.
  • Các đường sử dụng thuốc trong kỹ thuật trấn an còn ý thức:

    Đường uống
    Đường uống là đường sử dụng thuốc cổ điển và kinh tế nhất. đây cũng là phương pháp được chấp nhận rộng rãi và dễ thực hiện nhất. Hầu hết các nhà thực hành thích sử dụng thuốc theo đường uống do tính an toàn cao, biến chứng thấp và thường được trẻ chấp nhận dễ dàng. Ngoài ra phụ huynh cũng thích dung phương pháp sử dụng thuốc ít xâm lấn này. Những thuận lợi khác của thuốc dùng theo đường uống là: dễ dung, không đòi hỏi huấn luyện chuyên sâu, sử dụng trang thiết bị tối thiểu, chi phí thấp và giảm tỉ lệ phản ứng bất lợi. Đồng thời tránh việc tiêm chích với nhiều nguy cơ và hậu quả tâm lý đi kèm. Do đó trấn an theo đường uống là hình thức trấn an được sử dụng rộng rãi nhất trong nha khoa.
    Tuy nhiên, trấn an theo đường uống cũng có một số bất lợi như phụ thuộc vào sự tuân thủ của bênh nhân, phải ngừng việc trấn an nếu trẻ nhổ thuốc ra ngoài, thời gian bắt đầu tác dụng củ thuốc chậm, không thể chuẩn độ liều thuốc, không tiên đoán được tác dụng của thuốc, không dễ dàng làm giảm hay tang mức trấn an, hấp thu thuốc qua đường dạ dày- ruột không hoàn toàn và không ổn định.

    Đường hô hấp
    Đường hô hấp là đường sử dụng thuốc phổ biến thứ hai trong kỹ thuật trấn an còn ý thức. Nitrous oxide là thuốc đường hít duy nhất hội đủ yêu cầu của kỹ thuật trấn an này. Thuận lợi nổi bật là khởi phát tác dụng nhanh và hiệu quả vẫn duy trì miễn là còn tiếp tục sử dụng, mức độ trấn an có thể được chuẩn độ và điều chỉnh do thuốc thải trừ qua đường thở. Sử dụng thuốc qua đường hít không đạt tác dụng như các đường dùng thuốc khác mà đạt tác dụng sau khi ổn định vài phút và hồi phục nhanh sau vài phút ngưng sử dụng. Thuốc đường hít được sử dụng thông qua đường mũi với mặt nạ mũi chuyên dụng nên cho phép bác sĩ điều trị tiếp cận được xoang miệng dễ dàng.
    Tuy nhiên, nitrous oxide không có hiệu quả ở những trẻ quá kích động hoặc phản đối dữ dội. Trấn an qua đường hít cũng không sử dụng được ở những bệnh nhi không chấp nhận sử dụng mặt nạ và không có khả năng kiểm soát đường mũi hoặc bị tắt nghẹn đường mũi. Ngoài ra, nitrous oxide có tiềm năng nguy hại nghề nghiệp và chi phí cao nên việc sử dụng tác nhân trấn an này trên lâm sang cũng bị hạn chế. Nitrous oxide là một tác nhân trấn an yếu và thường được sử dụng kết hợp với các thuốc trấn an khác để làm tang hiệu quả trấn an.

    Đường mũi
    Sử dụng thuốc trấn an qua đường mũi có thuận lợi là hấp thụ nhanh trực tiếp vào hệ tuần hoàn mà không qua hàng rào tĩnh mạch cửa ở gan. Tuy nhiên, sử dụng thuốc qua đường mũi cũng có một số bất lợi như khó chịu, hấp thu không ổn định nên việc chuẩn liều < dose determination> gặp khó khan và có nguy cơ gây kích ứng niêm mạc mũi. Mặc dù đường dung thuốc này có thể bị trẻ phản đối nhưng việc sử dụng thuốc qua đường mũi tương đối đơn giản, không đau và ít đòi hỏi sự hợp tác của bệnh nhân như đường uống. loại thuốc trấn an thường được sử dụng nhất cho đường dung này là midazolam. Sau khi sử dụng qua đường mũi, thuốc khởi phát tác dụng nhanh và có nồng độ trong huyết tương khá cao nên thuận lợi đáng kể so với đường uống hay đường hậu môn.

    Tiêm bắp
    Thuận lợi chủ yếu của kỹ thuật trấn an tiêm bắp là khởi phát tác dụng nhanh khi so sánh với đường uống. Tuy nhiên, bất lợi chính của phương pháp này là không làm thay đổi được mức độ và thời gian trấn an đồng thời sự phục hồi tương đối chậm. Ngoài ra, kỹ thuật này còn có bất lợi là tiềm ẩn những nguy cơ liên quan với việc tiêm chích, nguy cơ tổn thương thần kinh, mạch máu và có thể xảy ra phản ứng phản vệ.

    Tiêm tĩnh mạch
    Đường tiêm tĩnh mạch là phương pháp sử dụng hiệu quả và dễ kiểm soát nhất nhưng lại là phương pháp ít được sử dụng nhất trong nha khoa vì gây ra lo lắng cho trẻ khi phải tạo và duy trì đường truyền tĩnh mạch ở trẻ. Thuận lợi chính của đường tiêm tĩnh mạch là khởi phát tác dụng nhanh, có thể điều chỉnh mức độ trấn an và kiểm soát thời gian trấn an. Nếu được truyền liên tục với một loại thuốc thích hợp thì có thể tạo ra hiệu quả trấn an kéo dài khi cần thiết. Tuy nhiên, việc quá liều tương đối dễ xảy ra khi sử dụng những loại thuốc có tác dụng tích lũy và khởi phát triệu chứng rất dữ dội nếu xuất hiện phản ứng phản vệ.

    Tiêm dưới niêm mạc
    Trấn an qua đường dưới niêm mạc thường kèm theo nguy cơ thuốc còn lắng đọng bên dưới niêm mạc. Cần phải hết sức lưu ý không cho thuốc lắng đọng vào bất cứ cơ mặt hay hàm nào vì như thế sẽ làm kéo dài sự hấp thu và tác dụng của thuốc. vị trí thường tiêm thuốc dưới niêm mạc là vùng hành lang đặc biệt ở vùng răng cối sửa hàm trên hay răng nanh trên. Thuốc được sử dụng nhiều nhất cho đường dung này là fentanyl, là một thuốc giảm đau gây nghiện ( narcotic analgesia) khởi phát tác dụng nhanh.

    Đường hậu môn
    Đặc tính của đường dung thuốc qua hậu môn tương tự như tiêm bắp nhưng ít nguy cơ hơn và có thời gian đạt tác dụng đỉnh hơi dài hơn. Sử dụng thuốc qua đường hậu môn gần như dành riêng cho một số ít trẻ muốn né tránh cảm giác sợ hãi do phải tiêm chích thuốc và có thể được mẹ trẻ sử dụng theo những hướng dẫn thích hợp. Bất lợi của đường hậu môn là không thể chuẩn độ, khả dụng sinh học không ổn định, có một phần chuyển hóa qua hàng rào tĩnh mạch cửa ở gan, nguy cơ kích thích niêm mạc hậu môn và không thuận tiện, Việc sử dụng thuốc qua đường hậu môn cực kỳ có giá trị khi trấn an cho trẻ quá nhỏ với thuốc methohexital sodium hay midazolam trước khi gây mê cho trẻ.